Articles

RSS
  • Khi những chàng trai cổ điển nổi loạn

    23 avr. 2008, 13h52m

    Từ trước đến nay, khi nhắc đến các band nhạc punk rock, người ta thường liên tưởng ngay tới những anh chàng ngổ ngáo chuyên thể hiện các bài hát ồn ào, sôi động và quậy phá. Thậm chí, “” trong tiếng Anh còn có nghĩa là thanh thiếu niên hư hỏng” hay “người cục mịch thô lỗ”. Do đó, nếu nói có một nhóm nhạc gồm toàn những thành viên được đào tạo nhạc cổ điển bài bản lại đâm đầu chơi punk thì có lẽ chuyện đó chỉ xảy ra trong các bộ phim âm nhạc dành cho teen của Hollywood. Vậy mà có năm chàng trai trẻ măng đến từ xứ York đã khiến mọi người sửng sốt khi album đầu tay của họ vừa tung ra vào ngày 14/4 là một sự kết hợp hoàn hảo giữa và nhạc cổ điển khiến cả nước Anh lên cơn sốt. Họ chính là Elliot Minor.

    Elliot Minor (tiền thân là nhóm The Academy) được thành lập vào tháng 10 năm 2005 với 3 thành viên ban đầu là Alex Davies (vocal), Ed Minton (guitar) và Dan Hetherton (drummer). Sau đó họ tiếp tục kết nạp thêm Ali Paul (keyboard) và Ed Hetherton (bass, anh trai của Dan) và ký hợp đồng với Repossession Records. Tất cả thành viên trong nhóm đều được đào tạo nhạc cổ điển bài bản tại các học viện âm nhạc, họ có thể chơi được rất nhiều loại nhạc cụ khác như violin, piano, saxophone, clarinet và double bass. Do đó, những bản nhạc của Elliot Minor thường lúc nào cũng vô cùng phong phú về âm thanh và nhạc điệu.

    Với phong cách vô cùng độc đáo và sáng tạo của mình, Elliot Minor nhanh chóng nhận được sự quan tâm và đánh giá cao của khán giả cũng như giới phê bình. Single đầu tiên của nhóm, Parallel Worlds lọt ngay vào top UK Singles và liên tục được phát đi phát lại trên các kênh truyền hình lớn như Kerrang!, MTV2, The Hits… Ba singles kế tiếp, Jessica, The White One Is Evil, Still Figuring Out cũng đều nằm trong top 40 của UK Singles ở những vị trí đáng khích lệ. Ngày 7/4/2008, họ phát hành lại single Parallel Worlds và đúng một tuần sau đó, album đầu tay của họ cũng với cái tên Elliot Minor chính thức được phát hành.

    Lắng nghe kỹ album vol 1 của Elliot Minor, ta có thể nhận thấy họ đã lấy cảm hứng từ rất nhiều nghệ sĩ và band nhạc khác nhau. Cách phối hợp piano rock gợi nhớ rất nhiều đến nhóm Something Corporate của Mỹ và các nhóm đến từ Anh như The Used, Muse, Keane… Trong khi đó, tiếng violin réo rắt lại khiến người ta dễ liên tưởng đến Yellowcard. Đặc biệt, chất nhạc cổ điển không lẫn vào đâu đã được Freddie Mercury và nhóm Queen áp dụng vào rock từ thập niên 80’. Nếu nghe một cách xét nét, các đoạn nhạc dạo cổ điển của Elliot Minor có thể gợi cho ta một loạt tên của các nhà soạn nhạc nổi tiếng như James Horner (nhạc phim Titanic), Tim Burtons (nhạc phim Sweeney Todd, The Corpse Bride…), John Williams (nhạc phim Harry Potter, Star Wars…)
    Điều này cũng không phải là quá khó hiểu khi âm nhạc cổ điển đã chảy trong dòng máu của các thành viên Elliot Minor từ lâu và họ đã phải lặn lội sang Los Angeles để nhờ Jim Wirt - producer của Hoobastank, Incubus và đặc biệt là Something Corporate – thực hiện album cho mình. Trong album này, các bản thu còn được mix bởi Neal Avron, người đã có kinh nghiệm thực hiện album với Yellowcard hay Fall Out Boy. Các chàng trai Elliot Minor cũng chưa bao giờ phủ nhận sự ảnh hưởng của những người đi trước trên âm nhạc của mình. Trong các cuộc phỏng vấn, họ cũng thừa nhận, Muse, Something Corporate, JACK’S MANNEQUIN chính là những band nhạc ảnh hưởng nhiều nhất đến âm nhạc của họ. Điều quan trọng nhất chính là thể hiện được cá tính riêng, và xét trên yếu tố này, họ đã hoàn toàn thành công khi khẳng định được cái tôi của mình trên từng track trong album.

    Về cơ bản, Elliot Minor hoàn toàn không làm mất đi chất pop punk đang được ưa chuộng trên thị trường với những đoạn guitar riff đơn giản nhưng sôi động, cách hát giọng mũi khá truyền thống, giai điệu bắt tai và dễ nhớ, nội dung ca khúc xoay quanh các cảm xúc và sự kiện đời thường. Ca khúc Jessica là cách họ bày tỏ sự hâm mộ nữ diễn viên nổi tiếng Jessica Alba, trong khi lời ca khúc The White One Is Evil lại mang một chút quái quái kinh dị như phong cách điển hình của My Chemical Romance. Điều khiến họ khác biệt với hằng hà sa số các nhóm pop punk khác hiện nay chính là sự hỗ trợ của rất nhiều loại nhạc cụ giúp phần hòa âm trở nên dày và phong phú hơn mà không tạo cảm giác bị chỏi với giai điệu nền. Trong album version của ca khúc Parallel Worlds, Elliot Minor thậm chí còn sử dụng một dàn nhạc giao hưởng 60 người để tạo hiệu ứng tốt nhất cho bài hát. Ngoài ra, phong cách dễ thương và nhiệt tình mỗi khi biểu diễn live cũng giúp Elliot Minor ghi được điểm cộng trong lòng fan, đặc biệt là các khán giả teen.

    Sắp tới vào khoảng giữa năm 2008, Elliot Minor sẽ cùng đi tour vòng quanh châu Âu với Simple Plan, nhóm pop punk cũng vừa tung ra album mới của mình vào tháng 2 năm 2008. Dù chỉ đóng vai trò hỗ trợ nhưng đây rõ ràng là cơ hội tuyệt vời để tên tuổi của Elliot Minor được fan âm nhạc của nhiều nước hơn nữa biết đến khi đây chỉ mới là lần đầu họ biểu diễn ngoài phạm vi nước Anh. Họ cũng xác nhận sẽ chơi tại Download Festival 2008, 1 trong những liên hoan âm nhạc nổi tiếng của châu Âu dành cho các band nhạc rock từ punk đến Metal. Cánh cửa cơ hội dành cho Elliot Minor đã rộng mở phía trước, băn khoăn duy nhất còn lại là liệu họ, những chàng trai còn quá trẻ liệu có đánh mất bản sắc của mình để trở thành bản sao của một ai đó hay không!
  • Awake Through The Dynamic

    2 fév. 2008, 10h25m



    If I had eyes in the back of my head
    I would have told you that you looked good
    ...
    As I walked away


    Khi Jack Johnson trả lời phỏng vấn với Rolling Stones rằng Sleep Through The Static đối nghịch với những album trước khi thêm vào rất nhiều âm thanh guitar điện tử, tôi đã sợ JJ của Cocoon hay Sitting, Waiting, Wishing, JJ của “Nắng vàng, biển xanh và anh” với cách hát hơi gấp gáp sẽ biến mất. Hay tệ hơn, trở thành một punk rocker nổi loạn nào đó.

    Lướt sơ qua album, sự lo lắng đó có vẻ hoàn toàn có cơ sở.

    All At Once, bài đầu tiên của album đã cảnh báo trước về một theme nhạc tối tăm hơn phủ lên album thay cho cái nắng hè Hawaii rực rỡ mà Jack Johnson đã xây dựng thành phong cách riêng ở On and On hay In Between Dreams.

    Có một thế giới chúng ta chưa bao giờ thấy
    Là nơi hy vọng lẩn khuất giữa những cơn mơ
    Rồi vụt tan biến khi một cơn gió nhẹ thoảng qua.
    Và nếu đứng chờ trong gió, đừng quên hít căng bầu ngực
    Vì khi bóng tối dần bao phủ
    Càng rướn tới tình yêu, ta chỉ càng chìm sâu vào màn u ám đó.


    Sleep Through The Static, ca khúc chủ đề của album lại đụng ngay vào vấn đề chính trị nhạy cảm hiện nay ở Mỹ, cuộc chiến tranh Iraq.

    Ai mà cần biết chúng ta đã làm những gì
    Ai còn cần sự tử tế khi chúng ta đã có súng trong tay
    Ai cần những giải pháp khi chúng ta là người cầm gậy
    Ai cần hòa bình khi chúng ta đều đã chết?


    Chất nhạc của Jack cũng ít nhiều thay đổi. Cách vào nhịp của Hope đúng scale của một bản punk rock mẫu mực. They Do, They Don’t lại bắt đầu với những tiếng piano bị echo nghèn nghẹt cứ như một ca khúc của Keane hay Coldplay bị đặt nhầm album. Và tất nhiên, những tiếng e-guitar được sử dụng với tần suất dày đặc. Cứ như JJ là một hợp thể với cả 2 gã tên J khác là James Blunt và Billie Joe Amstrong (guitar và lead vocal của nhóm punk rock Green Day) rồi vậy.

    Nhưng may mắn cho tôi, JJ vẫn chỉ có thể là Jack Johnson. Sleep Through The Static có thể nhiều trăn trở hơn, nhiều góc khuất hơn, nhưng đây vẫn là một album mang đậm những bản sắc riêng của một Jack Johnson mà tôi từng biết và yêu thích. Không sôi nổi và hân hoan như thời của album Brushfire Fairytales (khi phát hành album này vaò năm 2001, Jack Johnson chỉ mới 25 tuổi), Jackie của bảy năm sau đã trở nên chín chắn hơn nhiều. Không chỉ quan tâm đến những vấn đề vĩ mô như xã hội và chính trị, Jack-32-tuổi còn là thành viên của một gia đình nhỏ ấm cúng. Ca khúc Angel được Jack viết tặng Kim, vợ anh, trong khi ca khúc Go On chính là lời tâm sự và nhắn gửi của một người cha dành cho đứa con nhỏ của mình.

    Tôi có một thiên thần của riêng mình
    Em không có cánh, nhưng có trái tim chỉ dành riêng tôi
    Có một nụ cười có thể khiến ai cũng muốn cất tiếng hát
    Em tặng tôi tất cả những gì tôi từng ước ao
    Và tặng tôi nụ hôn thật nồng nàn mỗi khi tôi về nhà.

    Ở các ca khúc khác trong album như Hope, If I Had Eyes hay Losing Keys, dù cho chủ đề chính là những cảm xúc tiêu cực đi chăng nữa thì ta vẫn thấy đằng sau đó là những tia sáng hy vọng lấp lánh và cả một chút dí dỏm đặc trưng của Jack đủ để giữ niềm tin cho những người đang tuyệt vọng nhất đi chăng nữa.

    Dù có khen hay chê, thích hay không thích album mới này đi chăng nữa, ai cũng phải thừa nhận Jack và âm nhạc của anh đã thực sự trưởng thành. Năm 2005, album In Between Dreams của anh đạt được #2 tại US. Năm 2006, album Sing-A-Longs and Lullabies For The Film Curious George, một album nhạc film với các ca khúc của Jack Johnson thậm chí cón đạt được #1 tại US. Năm 2008, với sự chuyển biến đáng kể trong âm nhạc, Sleep Through The Static thật sự là một ẩn số thú vị đối với các bảng xếp hạng. Chỉ biết rằng, ngay cả trước khi được phát hành thì album đã là dĩa được mong chờ và đặt hàng nhiều nhất của iTunes. Đầy hứa hẹn!

    Một vấn đề cuối với Jack, âm nhạc của anh luôn quá dễ chịu và ấm áp đến mức đôi khi người nghe chỉ lim dim mắt tận hưởng và thư giãn mà quên mất những thông điệp mà anh gửi gắm. Sleep Through The Static cũng không là ngoại lệ. Như Jack tự nhận trong ca khúc Same Girl, “And I’m not a very good fighter”. Không thể quá mạnh mẽ hay quyết liệt, đây có thể là một trong những đặc điểm cố hữu của những người chơi acoustic, nhưng đối với những người trót nghiện những âm thanh guitar bập bùng, như thế đôi khi là đã đủ, nhỉ!
  • Shoes, Chocolate and Smile

    25 mars 2007, 2h06m

    Vào ngày Valentine của năm 2007, trong khi các ngôi sao ca nhạc của Anh nô nức tham gia buổi lễ trao giải Brit Awards thì có một nữ ca sĩ tuy nhận được đề cử ca sĩ nữ xuất sắc nhất nhưng lại không có mặt. Đó chính là cô ca sĩ đầy cá tính Nerina Pallot, cô còn bận tham gia đám cưới của chính mình với một đề cử khác của Brit Awards, nhà sản xuất tài ba Andy Francoise Chatterley

    Tuy nhiên, con đường sự nghiệp của Nini (tên gọi thân mật của Nerina Pallot) lại không hoàn toàn rải hoa hồng như nhiều người vẫn tưởng. Sinh ra ở London nhưng lại mang trong mình hai dòng máu Pháp thừa hưởng từ cha và Ấn Độ từ người mẹ, Nini là sự kết hợp của nét lãng mạn châu Âu cùng vẻ đẹp huyền bí của quê mẹ xa xôi.

    Vào năm 2001, Nini đầu quân cho hãng dĩa Polydor Records và tung ra album đầu tay của mình, Dear Frustrated Superstar nhưng lại hoàn toàn không gây được sự chú ý với dư luận. Liền sau đó, việc rắc rối với hãng dĩa xung quanh bản phối mới của ca khúc “Photograph” đã khiến cho toàn bộ album này bị thu hồi lại.
    Sau đó, cô bắt tay vào việc thực hiện album thứ 2 của mình với sự giúp đỡ của hãng phát hành âm nhạc Chrysalis. Trong thời gian này, cô thậm chí phải thế chấp căn nhà của mình để có tiền làm album và trang trải cho cuộc sống. Tuy nhiên, vận may vẫn chưa chịu mỉm cười với cô, album “Fires” cũng không đạt được thứ hạng cao trong các bảng xếp hạng. Hồi tưởng về khoảng thời gian này, Pallot đã mô tả rằng “Đó là thời điểm tôi hoàn toàn suy kiệt và thảm hại nhưng vẫn vô cùng ngang ngạnh”
    Không nản chí, cô chuyển sang hãng dĩa 14th Floor Records, bắt tay vào công cuộc “dát vàng lại album Fires” (từ của Pallot) với một sự tỉ mỉ đặc biệt như thêm nhiều âm thanh của các nhạc cụ dây vào một số track trong album, phối lại tiếng piano… Cuối cùng, những nỗ lực của Nini đã được đền đáp, single “Everybody’s Gone to War” đạt được vị trí 14 trong bảng xếp hạng, album “Fires” đã đạt được một dĩa bạch kim, và tên của Nerina Pallot đã xuất hiện trong danh sách đề cử ca sĩ nữ xuất sắc nhất năm 2006 của giải thưởng danh giá Brit Awards.

    Dù trải qua biết bao khó khăn, Nerina vẫn không bao giờ nản lòng và luôn lạc quan đứng dậy và bước tiếp về phía trước. Điều đó ảnh hưởng rõ rệt lên toàn bộ những sáng tác của cô.
    Trong một lần phỏng vấn, Nini đã cho biết nội dung chính của album “Fires”: “ Cuộc sống luôn khắc nghiệt, mọi người đều cũng sẽ đến lúc mất đi nhưng tôi sẽ luôn cố gắng vượt trên tất cả với một nụ cười, một bài hát, và nếu tất cả đều thất bại, sẽ vẫn còn rất nhiều đôi giày để mua và rất nhiều chocolate để ăn”.
    Có lẽ chính vì thế mà dù rất nhiều ca khúc đề cập đến cái chết nhưng ta vẫn có thể cảm nhận được sức sống mạnh mẽ toát lên từ những thanh âm linh hoạt và cả một chút nghịch ngợm từ giọng hát là lạ của Nerina.

    Hãy lắng nghe Nerina bày tỏ quan niệm sống của mình: ”Cháu chẳng biết tại sao bác chỉ cho cháu bầu trời. Bác nói nhìn thấy ở đó cả thiên đàng nhưng cháu thì chỉ thấy địa ngục, nhưng dù sao thì cháu cũng cũng luôn cố gắng” (Mr King) hay “Tại sao chúng ta phải lo lắng, khi chúng ta có thể làm bất cứ điều gì” (All Good People)
    Âm nhạc còn là phương tiện tuyệt vời để Nerina thể hiện cuộc sống muôn màu của mình. Nếu Mr King chính là một người cô vô cùng kính trọng thì bài hát “Everybody’s Gone to War” chính là về một người bạn từ thời phổ thông của cô “Tất cả mọi người đều lao vào cuộc chiến tranh. Chúng ta không biết chúng ta đang chiến đấu vì điều gì. Đừng nói với tôi đó vì động cơ xứng đáng. Vì chẳng có động cơ nào thật sự chính đáng cả”. Hay đơn giản chỉ là một chốn bình yên tìm về“Em chỉ còn một đồng 25 xu trong túi và 1 quả táo để ăn. Bây giờ em đang ở nửa đường về nhà, và anh biết không, em không bao giờ cảm thấy cô độc, vì em mãi chờ vòng tay của anh. Cuối cùng em đã ở nhà” (Halfway Home)

    Dẫu rằng, giải thưởng Brit Awards năm 2006 đã lọt vào tay nữ ca sĩ dòng nhạc soul-jazz Amy Winehouse, nhưng có lẽ đối với Nerina, mọi sự chỉ mới bắt đầu. Hiện tại, Nini đang bận rộn với dự án từ thiện Help A Jersey Child của mình (vào năm 2006, cô ca sỹ này cũng đã tham gia chương trình từ thiện Children In Need) nhưng chắc rằng Nerina sẽ sớm quay lại và thắp lên những ngọn lửa mới từ nguồn năng lượng vô tận của chính mình, như chính tên album của cô, NHỮNG NGỌN LỬA.
  • Rooster Reviews

    6 mars 2007, 1h13m

    Có bao giờ bạn có cảm giác mình thật đặc biệt khi yêu mến một band nhạc mà hầu như nhắc tên không ai biết?
    Và có bao giờ bạn cảm thấy hụt hẫng khi lúc bạn cầm trên tay dĩa nhạc mới nhất của họ cũng là lúc họ tuyên bố tan rã?
    Nếu câu trả lời của bạn là có, xin chúc mừng, tôi và bạn đã có thêm một điểm chung. Band nhạc tôi nhắc tới chính là Rooster, một nhóm không bị lẫn với ai khác.

    Có lẽ với đa phần fan yêu nhạc VN, cụm từ “”, hay nói tổng quát hơn, “”, là khá xa lạ. Thật ra, ý nghĩa của nó rất đơn giản, thuật ngữ này dùng để chỉ âm nhạc của những band nhạc hoàn toàn độc lập, không phụ thuộc vào bất cứ hãng đĩa lớn nào. Điều đó đồng nghĩa band hoàn toàn tự do sáng tạo âm nhạc, và dĩ nhiên mặt trái, không thể nào có một chiến dịch promo tốt như những chú gà cưng của các hãng đĩa lớn. Nói một cách nôm na, các indie bands chính là những người theo chủ nghĩa DIY, Do - It – Yourself, một tuyên ngôn không bao giờ cũ với giới trẻ.

    Rooster được thành lập vào năm 2002 với 4 thành viên gồm Nick Atkinson (vocal), Luke Potashnish (guitar), Dave Neale (drums), ben smyth (bass). Tên của band nhạc lấy từ tên một chú ngựa mà Nick yêu thích, Rooster Booster. Sau khi chơi ở vài liveshow, họ đã ký hợp đồng với một hãng dĩa nhỏ là Brightside.
    Rooster tự mô tả âm nhạc của mình như một loại “rock non nớt”, kết hợp giữa hard rock và pop, gần tương tự như âm nhạc của Busted hay McFly, với mục đích nhắm vào những teen nghe rock ở Anh. Tuy nhiên, họ lại thành công ở thị trường châu Á khi được đón nhận nhiệt tình tại Nhật, Singapore, Úc và một số nước Đông Nam Á khác.

    Rooster đã tạo được sự chú ý với dư luận khi là band nhạc đầu tiên chơi liveshow được truyền trực tiếp qua điện thoại di động vào tháng 10 năm 2004. Tới tháng Giêng năm sau, họ đã tung ra album đầu tay cùng tên Rooster.
    Debut album đã đạt được một số thành công nhất định khi single đầu tay, Come Get Some, lọt vào được top 10 UK vào tháng 12 năm 2004. Single sau đó, Staring At The Sun cũng có kết quả khá khả quan khi dành được vị trí thứ 5 trong top 10 UK. Nhưng đó là tất cả những gì họ làm được với các bảng xếp hạng!

    Không nhận được bất cứ sự giúp đỡ nào của các ông lớn trong làng âm nhạc, Rooster bắt đầu đuối sức khi phải tự lực cánh sinh lo quá nhiều công việc. Album thứ 2 của họ, Circles And Satellites (chính là album mà tôi vừa mới may mắn có được), hầu như không có được bất cứ chương trình quảng cáo nào và chỉ đạt tới thứ hạng 193 trong bảng xếp hạng UK, một điều hết sức đáng tiếc với một band nhạc mà tiềm năng có thể phát triển mạnh mẽ nếu có được một nguồn tài trợ tốt.
    Và như một hệ quả của doanh số nghèo nàn, ngày 24-1-2007, Rooster đã tuyên bố về sự tan rã của họ trên trang MySpace của Rooster. Các thành viên trong nhóm đều bắt đầu những dự án riêng của họ nhưng vẫn để ngỏ khả năng trở lại dưới cái tên Rooster.

    Đó quả thật là một tin gây shock với những người đã từng yêu mến Rooster (trong số đó dĩ nhiên có cả tôi). Nhưng sự thật vẫn là sự thật, và các thành viên trong nhóm chắc hẳn sẽ rất ấm lòng khi biết các fan của mình vẫn dõi theo và ủng hộ họ trong những dự án mới.

    Bên cạnh sự nhiệt tình, sẵn sang chơi bất cứ bài hát nào mà fan yêu cầu, Rooster còn luôn gây bất ngờ trong các liveshow bằng các đoạn ngẫu hứng (đoạn solo 4 phút của tay trống Dave là một ví dụ). Ngoài ra, Rooster còn hay cover các bài hát nổi tiếng như Sunshine of Your Love,Satisfaction

    Như đã nói, chính là phong cách âm nhạc của Rooster, và phong cách này không có sự chuyển biến nào đáng kể từ vol 1 sang vol 2. Mặc dù vậy, Rooster vẫn chứng tỏ mình sẽ rất chắc tay nếu chơi nặng hơn lên hard rock. Tuy nhiên âm nhạc của Rooster vẫn có thể chiếm được cảm tình của nhiều fan nhờ những đặc điểm riêng không lẫn vào được với ai của họ. Nicky với cách hát hơi khàn và những đoạn falsetto ngẫu hứng, Luke đầy đặn với với những đoạn solo ngắn lai giữa punk và hardrock…Rooster đã làm được nhiều hơn những gì người ta hay nghĩ về các indie rock band – chỉ là những band nhạc của các buổi party trường học.

    Chỉ có một chút thay đổi ở hình ảnh khi Rooster ở debut album là những cậu chàng học sinh đầu tóc hơi bù xù nhưng qua vol 2 đã ra vẻ chững chạc hẳn lên khi vocal Nick Atkinson đã từ bỏ mái tóc bồng bềnh để chuyển sang kiểu tóc ngắn như bậc đàn anh kì cựu Chris Martin của nhóm Coldplay.

    Lời nhạc trong các tác phẩm của các nhóm pop-rock Anh thường tập trung vào các đề tài nổi loạn, phá phách (Busted) hay những tình yêu ngọt ngào, lãng mạn nhưng dễ vỡ của học sinh phổ thông (McFly) thì lyrics của Rooster lại tỏ ra khá chin chắn và sâu sắc, thể hiện đúng được tâm trạng và cảm xúc phức tạp của những thanh niên trẻ đối diện với cánh cửa rộng lớn của cuộc sống, với những vần đề cá nhân, tình bạn, tình yêu, xã hội… Nhưng điều mà khiến tôi thực sự yêu thích Rooster là trong âm nhạc của họ luôn tồn tại một lối thoát. Có thể trong những giai điệu của Rooster có những u hoài, thất vọng, mệt mỏi, chán chường, cô đơn, thất bại… nhưng đó hoàn toàn không phải là tất cả những gì Rooster nhắm đến. Dù có bất cứ chuyện gì xảy ra vẫn luôn có những tia sáng của niềm tin và hy vọng lấp lánh bên trong, âm nhạc của Rooster thực sự là thứ có thể nâng đỡ những người trẻ dậy mỗi khi họ vấp ngã hay sai lầm. Điều đó thể hiện rõ qua từng bài hát của Rooster.

    Âm nhạc của Rooster chính là chặng đường sống của họ. Những lời hứa hẹn ngọt ngào không bao giờ trở thành sự thực, cảm giác lạc lõng và lúng túng khi lần đầu biểu diễn (Standing In Line). Những thời điểm bị khán giả xem là phiên bản A’ hay B’ của một nhóm nhạc nào đó (Staring At The Sun)…

    Nhưng rồi họ cũng vượt qua khó khăn, tự tin bước lên sân khấu với sự ủng hộ nhiệt tình của khán giả. Bạn chờ đợi khi màn đêm buông xuống, chân bạn như nhấc bổng khỏi mặt đất, trôi không trọng lượng giữa đám đông cuồng nhiệt… Thật tốt khi tất cả đã ở đây (Good To Be Here). Không có gì khó hiểu khi điều duy nhất tôi muốn là bay lên. Vì điều đó thật đẹp khi tôi chơi cùng các bạn. Hãy đưa tôi đi trên hành trình của niềm vui (Joyride)

    Đến cùng với sự nổi tiếng chính là những chuyến lưu diễn. Họ tạm biệt những nơi chốn đã từng gắn bó, những gương mặt thân thương. Trong đêm cuối cùng bạn bè, những chàng trai trẻ hứa chắc rằng một ngày nào đó rồi tất cả sẽ gặp lại nhau. Những ly nước đầy rồi lại vơi… Họ đã lên đường, vì cuộc sống vẫn hàng ngày tiếp diễn (So Long). Họ yêu thích cuộc sống sôi động, muốn khám phá những không gian mới, sải rộng đôi cánh bay vào bầu trời bao la vì biết rằng, một ngày nào đó, khi mệt mỏi và cô đơn, luôn có nơi để họ trở về, vì đặt chân trở lại trên mặt đất chắc chắn luôn là một điều tốt (Home).

    Cũng như các band khác, bên cạnh các bài hát sôi động, Rooster cũng có những bản ballad hút hồn người nghe, đặc biệt là trong album vol 1. Các bản dù không đạt được thứ hạng cao nhưng lại khiến cho hàng loạt fan chết mê chết mệt, đặc biệt là ở thị trường Nhật Bản. Ballad của Rooster không não tình hay sướt mướt, chỉ là những câu chuyện nhẹ nhàng và giản dị, chính điều đó cũng làm nên nét riêng của Rooster. Angels CallingDeep And Meaningless là những câu chuyện chia tay nhưng lại không có những oán trách, khóc than, đổ lỗi, hận thù như thông thường. Đó là một chút cố gắng mạnh mẽ của người con trai (Deep and Meaningless – Nếu em gọi cho anh hôm nay, anh sẽ bảo rằng anh vẫn khỏe, nhưng anh chắc rằng em có thể nhận ra ngay qua âm sắc, đó chỉ là một lời nói dối), là những lời tâm sự thẳng thắn trước khi sự chia tay vĩnh viễn xảy ra ( Angels Calling – Chúng ta đã từng là một, và anh thề sẽ bên em mãi mãi, nhưng rồi mọi chuyện tốt đẹp đều phải kết thúc, người bạn tri kỷ của anh ơi….Nếu anh nói thực sự rất tiếc, thì điều đó có giúp được em không, vì anh không bao giờ muốn kết thúc theo cách này, nhưng có 1 nơi trong trái time m, mà em biết rằng luôn có thể tìm thấy anh ở đó, và anh sẽ luôn ở bên em dù cho em đang ở đâu, gần hay xa). Mọi chuyện diễn ra một cách nhẹ nhàng như là “chuyện phải thế thôi”. Ngoài ra, các bài hát khác về tình yêu của Rooster như To Die For, I Come Alive, Clear Skies, Unexpectedly… với lời lẽ chân thực, gần gũi, không văn hoa cũng rất được yêu thích

    Hình ảnh người thanh niên trẻ háo hức, đầy nhiệt tâm, cũng được thể hiện khá rõ trong âm nhạc của Rooster. Những người anh em gặp khó khăn (Halo), những người bạn đang trốn trong vỏ ốc tự kỷ (Get Up), những người cố gắng chạy trốn khỏi sự thật (Drag the sunrise down)… trở thành những người bạn cảm xúc của Rooster một cách rất tự nhiên. “Những chú gà trống” mở rộng vòng tay bạn bè, gửi tới cho họ ánh sáng của hy vọng, giúp đỡ họ vượt qua những khó khăn của chính mình. Chỉ có bạn mới có thể tìm thấy ánh sáng của chính mình (Drag the sunrise down); Đứng dậy, hãy đứng dậy bằng chính đôi chân của mình, không thứ gì lại có thể tự nhiên xảy ra, tất cả những gì bạn cần chỉ là một ai đó để tin tưởng (Get Up); Đừng để những bức tường xung quanh bạn sụp đổ, tôi cố gắng giúp bạn ra khỏi đó, cố gắng một lần trở thành bạn của bạn, có thể tôi sai, nhưng tôi nghĩ là tôi đã đúng (Maybe I’m right). Đó chính là Rooster mà tôi yêu mến, có thể họ sẽ không giải bài tập hay làm việc nhà cùng tôi, nhưng chắc rằng, mỗi khi tôi gặp khó khăn, Rooster sẽ luôn có ở đó, bên cạnh tôi, động viên và cổ vũ. Thế là đủ!

    Có lần, tôi đã nói vui, nếu chọn tên một nhóm rock để giới thiệu cho một người bạn hoàn toàn xa lạ với rock, tôi sẽ không chọn những cây cổ thụ nhạc rock (vì quá nhiều, biết giới thiệu ai?) mà sẽ chọn chính Rooster, một band vô danh, không tên tuổi, để làm viên gạch đầu tiên đưa họ tới bảo tàng nhạc rock. Một phần có lẽ vì rock của họ dễ nghe, gần gũi, nhưng lý do quan trọng hơn, rock của Rooster luôn ngập tràn ánh sáng và niềm tin, một điều khó bắt gặp khi bạn đi sâu vào vùng đất tăm tối của rock. Nhưng giờ thì Rooster đã chia tay (như những band indie tuổi thọ ngắn ngủi khác). Lý do thì có muôn vạn, nhưng chắc rằng điều đó cũng đã không còn đáng để quan tâm nữa. Chỉ hy vọng rằng lời hứa về ngày quay lại của họ sẽ không trở thành lời hứa suông, để Rooster, tôi, và tất cả các fan khác sẽ lại tiếp tục cùng đi trên “hành trình của niềm vui”.
    Sớm trở lại nhé, Rooster!